Bơm quay ngược chiều: đảo thứ tự pha và cách đổi 2 pha

Một cụm bơm ly tâm do phía Nhật cung cấp đã lắp xong, đấu dây xong và đến lúc chạy thử (đóng điện thử ngắn). Động cơ chạy, nhưng trục quay ngược với mũi tên đúc trên vỏ bơm. Hoặc một máy bơm chạy tốt nhiều năm bỗng quay ngược ngay sau khi thay động cơ hoặc thay cáp. Cả hai trường hợp, người làm điện thường nói ngay: "đổi chỗ 2 pha". Cách đó đúng với nhiều máy bơm nhưng không đúng với tất cả. Hiểu vì sao nó đúng sẽ cho biết khi nào nó không đúng.
Câu trả lời ngắn: động cơ không đồng bộ ba pha quay theo chiều của từ trường quay bên trong nó, và chiều đó phụ thuộc vào thứ tự pha của nguồn. Khi động cơ khởi động trực tiếp từ lưới (DOL, chokuire), đổi chỗ hai trong ba dây nguồn sẽ đảo thứ tự pha, nên từ trường và trục quay cũng đảo chiều. Quy tắc này không áp dụng cho bơm chạy bằng biến tần (VFD), cho động cơ một pha, hay cho bơm quay ngược sau khi dừng do chất lỏng chảy ngược qua bơm.
Bài này đi lần lượt qua phần bơm, nguyên lý động cơ, việc đổi 2 pha, các trường hợp quy tắc không còn đúng, và cuối bài có bảng kiểm tra cùng mẫu email để trao đổi với nhà cung cấp Nhật.
Mục lục
Vì sao bơm quay ngược chiều
Bơm là máy truyền năng lượng cho chất lỏng và đẩy chất lỏng đi. Với bơm ly tâm điển hình, cánh bơm (impeller, hanebaguruma) quay trong vỏ bơm và truyền động năng cho nước hoặc chất lỏng khác. Hình dạng cánh khác nhau tùy loại bơm: cánh bơm ly tâm và rôto dạng trục vít của bơm trục vít là hai thứ khác nhau.
Ở bơm điện, động cơ cấp mô-men để quay cánh bơm. Khi động cơ nối thẳng với bơm qua khớp nối trục (coupling), trục động cơ quay sai chiều thì trục bơm cũng quay sai chiều.
Hình 1: Chuyển động quay của động cơ truyền đến cánh bơm qua khớp nối
Bơm trục ngang, nối trực tiếp. Sơ đồ minh họa ghép mặt cắt phía truyền động với hình nhìn chính diện của cánh bơm.
Cánh bơm được vẽ nhìn chính diện, ở một hình chiếu khác. Ở thiết bị thật, khớp nối được che bằng tấm chắn bảo vệ; ống hút, phớt và vòng bi được lược bỏ.
Khi cánh bơm quay ngược, cánh và vỏ bơm không tạo được dòng chảy như thiết kế, nên cột áp và lưu lượng đều thiếu. Bơm làm việc thế nào khi quay ngược, và quay ngược ảnh hưởng ra sao đến các chi tiết cơ khí, tùy thiết kế của từng bơm.
Ở cửa đẩy có một ít nước chảy ra chưa chứng tỏ bơm đang quay đúng chiều. Ngược lại, lưu lượng thấp cũng có thể do vấn đề ở phía hút hoặc do trở lực hệ thống tăng. Đường đặc tính bơm cho biết bơm lẽ ra phải cho bao nhiêu, còn NPSH cho biết còn bao nhiêu dự trữ ở phía hút. Khi tìm nguyên nhân, hãy tách riêng ba thứ: nguồn điện, chiều quay và điều kiện phía chất lỏng.
"Quay thuận kim đồng hồ" còn tùy bạn đứng ở đâu
Cùng một trục, nhìn từ đầu này thì thuận kim đồng hồ, nhìn từ đầu kia lại ngược kim đồng hồ. Nhìn từ phía đầu trục ra của động cơ và nhìn từ phía quạt làm mát, chiều quay trông ngược nhau.
Tại hiện trường, hãy lấy mũi tên chiều quay trên bơm và vị trí quan sát ghi trong sách hướng dẫn làm chuẩn. Một dòng ghi chép chỉ có "quay thuận kim đồng hồ" thì rất khó kiểm chứng lại sau này.
Hãy ghi cả chiều quay lẫn vị trí nhìn, để bên cơ khí và bên điện hiểu cùng một điều. Đừng tháo tấm chắn khớp nối khi bơm đang chạy chỉ để nhìn cho rõ.
Động cơ không đồng bộ ba pha quay như thế nào
Động cơ tạo mô-men từ tương tác giữa từ trường và dòng điện, cùng ý tưởng với thí nghiệm nam châm và cuộn dây ở trường học.
Với động cơ điện một chiều có chổi than và nam châm vĩnh cửu, đảo chiều dòng điện phần ứng thì đảo chiều quay. Nhưng không thể suy ra quy tắc chung "đảo cực nguồn thì động cơ loại nào cũng quay ngược".
Động cơ không đồng bộ ba pha được dùng rất rộng rãi để chạy bơm trong nhà máy. Để không nhầm với máy điện một chiều, phần giải thích dưới đây chia động cơ thành stato bên ngoài và rôto bên trong. Ở động cơ không đồng bộ, mô-men sinh ra từ dòng điện cảm ứng trong các thanh dẫn của rôto.
120° theo thời gian và 120° của cuộn dây là hai việc khác nhau
Dòng điện xoay chiều đổi chiều và đổi độ lớn theo chu kỳ đều đặn. Nguồn ba pha đối xứng có ba dạng sóng cùng tần số, mỗi sóng lệch nhau 120° theo thời gian.
Một chu kỳ đầy đủ là 360°, nên 120° bằng một phần ba chu kỳ. Ở 50 Hz, một chu kỳ dài 20 ms, một phần ba là khoảng 6,67 ms.
120° này là độ lệch pha theo thời gian: nó cho biết thời điểm dòng điện đạt đỉnh ở mỗi pha.
Hình 2: Trong mô hình 2 cực đơn giản, trục từ của các cuộn dây đặt cách nhau 120°
U, V, W là trục từ của các nhóm cuộn dây. Hình không thể hiện số cuộn dây thực tế hay cách bố trí đầu nối.
Động cơ thật phân bố cuộn dây vào nhiều rãnh. Ở máy nhiều cực, các pha lệch nhau 120° điện, không giống với việc chia đều chu vi thành ba phần.
Ở stato, ba nhóm cuộn dây cũng được đặt lệch nhau trong không gian. Trong mô hình 2 cực đơn giản, có thể đặt trục từ của các cuộn dây lệch nhau 120° cơ học để giải thích.
Stato thật có nhiều rãnh, và mỗi cuộn dây được rải vào vài rãnh. Nó không phải là một ống chỉ có ba cuộn dây riêng lẻ bên trong.
Ở động cơ 4 cực và 6 cực, cặp cực lặp lại quanh chu vi, nên 120° điện không đồng nhất với 120° cơ học trên chu vi stato.
Ba từ trường hợp lại thành một từ trường quay liên tục
Dòng điện mỗi pha sinh ra từ trường dọc theo trục cuộn dây của pha đó. Cộng ba từ trường lại, hướng của từ trường tổng hợp quay liên tục theo thời gian.
Đó là từ trường quay. Động cơ không bật lần lượt từng pha; cả ba dòng điện biến thiên cùng lúc và cùng tạo ra một từ trường tổng hợp.
Hình 3 đặt dòng điện pha U ở giá trị đỉnh bằng 1 tại một thời điểm. Cùng thời điểm đó, dòng pha V và pha W không bằng 0: mỗi dòng bằng 0,5 nhưng ngược chiều.
Dòng điện ngược chiều cũng làm đảo chiều từ trường của cuộn dây đó. Chiều quấn của ba cuộn dây cùng dấu của ba dòng điện quyết định từ trường tổng hợp hướng về đâu.
Hình 3: Từ trường tổng hợp do dòng điện ba pha tạo ra cùng lúc
Cùng mô hình 2 cực như Hình 2. Dòng điện biểu diễn theo tỉ lệ so với giá trị đỉnh; dấu trừ nghĩa là dòng điện chạy ngược chiều trong cuộn dây.
Mô hình lý tưởng với sóng sin đối xứng và cuộn dây đối xứng. Chiều lên trên là trục y dương; hình không định nghĩa chiều CW/CCW của bất kỳ động cơ thật nào.
Rôto của động cơ không đồng bộ lồng sóc gồm các thanh dẫn, nối với nhau ở hai đầu bằng vòng ngắn mạch. Chuyển động tương đối giữa từ trường quay và các thanh dẫn này cảm ứng điện áp và dòng điện trong rôto.
Dòng điện đó tác dụng với từ trường sinh ra mô-men, và rôto quay cùng chiều với từ trường. Vòng ngắn mạch nối các thanh dẫn với nhau về điện, tạo đường khép kín cho dòng điện rôto.

Tốc độ đồng bộ và tốc độ trục
Tốc độ của từ trường quay là tốc độ đồng bộ, do tần số nguồn và số cực quyết định. Khi động cơ không đồng bộ thông thường kéo tải, rôto quay chậm hơn tốc độ này một chút.
Chính độ chênh tốc độ đó cảm ứng điện áp vào các thanh dẫn rôto. Độ chênh tính theo tỉ lệ gọi là hệ số trượt (slip, suberi). Hệ số trượt là đại lượng khác với thứ tự pha, là thứ quyết định chiều quay.
Ví dụ, động cơ 4 cực ở 50 Hz có tốc độ đồng bộ 1.500 rpm. Giả sử hệ số trượt 3% để minh họa, tốc độ rôto tính ra là 1.455 rpm.
Lưới điện Việt Nam là 50 Hz, còn Nhật Bản dùng 50 Hz ở miền đông và 60 Hz ở miền tây, nên động cơ từ Nhật gửi sang có thể ghi định mức tần số khác với nhà máy của bạn. Hãy đối chiếu điện áp và tần số trên nhãn động cơ với lưới tại nhà máy. Tần số làm đổi tốc độ chứ không đổi chiều quay. Khi chọn động cơ, bạn cũng cần công suất trục của bơm chứ không chỉ tốc độ.
Vì sao đổi chỗ hai pha thì đảo chiều quay
Điện ba pha có thứ tự pha (sōjun, 相順): thứ tự mà các sóng đạt đỉnh lần lượt. Khi các cuộn dây stato không đổi, đảo thứ tự pha sẽ đảo chiều chuyển động của từ trường quay.
Ví dụ, nếu thứ tự sóng đến các cuộn dây U, V, W đổi từ U→V→W thành U→W→V, từ trường sẽ quay ngược lại. Bên trong động cơ không có gì dịch chuyển; chỉ có sự tương ứng giữa ba sóng của nguồn và các cuộn dây đã thay đổi.
Hình 4: Chỉ cần đổi chỗ hai mối nối là thứ tự pha bị đảo
Bên trái: cách nối chuẩn. Bên phải: hai pha đi vào V và W bị đổi chỗ (chỉ là khái niệm).
Chỗ giao nhau không phải điểm nối. Đây không phải hướng dẫn về đầu nối, màu dây, điện áp hay thao tác đấu dây thực tế; hình chỉ thể hiện thứ tự pha của động cơ không đồng bộ ba pha khởi động trực tiếp.
Đổi chỗ bất kỳ một cặp pha nào cũng đảo thứ tự, và không quan trọng là cặp nào: giữ nguyên U rồi đổi V với W cho kết quả giống như đổi bất kỳ cặp nào khác.
Xoay vòng cả ba dây một vị trí thì chiều quay không đổi. Cách đó chỉ làm thay đổi điểm bắt đầu đọc thứ tự; chiều đi vòng quanh vòng tròn vẫn như cũ.
Hình 5: Sáu thứ tự pha có thể có chia thành hai chiều quay
Cùng một stato, cùng vị trí quan sát, so sánh với ABC làm chuẩn.
| Thứ tự | So với chuẩn | Lý do |
|---|---|---|
| ABC, BCA, CAB | Cùng chiều | Điểm bắt đầu khác nhau nhưng vẫn là một vòng A→B→C |
| ACB, CBA, BAC | Ngược chiều | Đổi chỗ hai pha làm đảo chiều vòng |
Chỉ riêng nhãn "ABC" không xác định chiều thuận kim đồng hồ cho mọi động cơ. Định nghĩa cuộn dây và vị trí quan sát cũng phải thống nhất.
Trên bản vẽ và thiết bị đo của Nhật, bạn thường thấy các dây nguồn ghi R, S, T và đầu nối động cơ ghi U, V, W; bản vẽ theo IEC thì dùng L1, L2, L3 và T1, T2, T3 hoặc U, V, W. Tại Việt Nam bạn cũng có thể gặp ký hiệu pha A, B, C tùy bản vẽ. Máy kiểm tra thứ tự pha của Nhật, gọi là kensoki (検相器), thường có đèn seisō (正相, thứ tự thuận) hoặc gyakusō (逆相, thứ tự ngược). Hãy xác nhận ký hiệu theo bảng chú giải của chính bản vẽ đang dùng, đừng tự suy đoán.
Quy ước ký hiệu đầu nối và chiều quay của máy điện quay nằm trong IEC 60034-8. Phần tương ứng trong bộ TCVN 7114 (máy điện quay, xây dựng trên cơ sở IEC 60034) cần đối chiếu với nhà cung cấp; bài này chưa xác nhận số hiệu cụ thể.
Đảo thứ tự pha khác với mất pha
Hãy phân biệt đảo pha và mất pha. Đảo pha là cả ba pha đều có nhưng theo thứ tự ngược. Mất pha (chạy hai pha) là một trong ba pha bị mất.
Mất pha có thể khiến động cơ không khởi động được, dòng điện lệch giữa các pha, hoặc quá nhiệt. Nếu coi "không quay thì đổi hai dây" là cách sửa, bạn sẽ bỏ sót trường hợp thiếu một pha nguồn hoặc tiếp xúc kém.
Dù thứ tự pha đúng, động cơ vẫn có thể không khởi động được nếu trục bị kẹt hoặc tải bơm quá nặng. Hãy xem "quay sai chiều" và "không quay" là hai vấn đề khác nhau.
Dòng điện làm việc cho biết phần nào về tải, nhưng chỉ dựa vào dòng điện thì không biết được chiều quay. Hãy ghi riêng thứ tự pha, chuyển động của trục và tình trạng đường ống như các quan sát độc lập, để không lẫn nguyên nhân.
Đổi thứ tự pha ở phía nguồn cũng đảo chiều của mọi động cơ khởi động trực tiếp khác cấp điện từ cùng điểm đó. Hãy dùng sơ đồ một sợi và sơ đồ nguyên lý để xác định phạm vi của thay đổi, và kiểm soát ảnh hưởng đến các thiết bị nằm ngoài phạm vi.
Khi nào đổi chỗ hai pha không áp dụng
Bơm chạy bằng biến tần (VFD)
Phần này nói về biến tần nguồn áp thông dụng, gồm bộ chỉnh lưu và mạch DC trung gian. Biến tần đổi điện xoay chiều đầu vào thành một chiều rồi tạo lại điện ba pha mới ở đầu ra, nên đổi thứ tự pha ở đầu vào không làm đổi chiều quay của động cơ.
Hình 6: Biến tần tạo lại điện ba pha ở đầu ra
Khái niệm về bộ chỉnh lưu, mạch DC trung gian và tầng nghịch lưu đầu ra thông dụng.
Các khối là khối chức năng; hai đường song song trên mạch DC là tụ điện. Linh kiện thực tế, đầu nối và mạch bypass sang lưới được lược bỏ.
Khi bơm chạy biến tần quay ngược, hãy kiểm tra riêng lệnh thuận/ngược, chế độ vận hành và thứ tự pha đầu ra. Bảng điều khiển hiện "FWD" (seiten, 正転, quay thuận) không bảo đảm bơm quay đúng chiều cần thiết.
Nếu hệ thống có đường bypass để chuyển động cơ sang chạy lưới, đường cấp điện khi chạy biến tần khác với khi chạy lưới. Chạy đúng chiều ở một chế độ không nói lên điều gì về chế độ kia; hãy kiểm tra cả hai.
Lệnh chiều quay đi qua dây dẫn trong tủ điều khiển và, ở nhiều hệ thống, qua PLC. Khi chẩn đoán, hãy truy lệnh về nguồn phát và đối chiếu với chuyển động thực của trục.
Động cơ một pha
Ở động cơ một pha, chiều quay do cách bố trí cuộn dây chính, cuộn dây phụ và tụ điện quyết định. Đổi chỗ hai dây nguồn không làm đảo chiều như việc đổi hai pha ở động cơ ba pha.
Việc đấu nối lại thực tế do người chịu trách nhiệm thiết bị và nhân viên có đủ năng lực thực hiện, theo quy trình của nhà sản xuất. Ngoài việc cắt nguồn, chống đóng điện lại và xác nhận không còn điện áp, thiết bị dùng biến tần còn cần biện pháp phòng điện áp dư trong biến tần. Ở Việt Nam, công việc này cũng nằm trong khuôn khổ Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và quy định an toàn điện của nhà máy.
Quay ngược sau khi dừng (dòng chảy ngược)
Sau khi bơm dừng, chất lỏng có thể chảy ngược từ phía đẩy, đẩy cánh bơm và làm trục quay ngược. Năng lượng cho chuyển động này đến từ áp suất hoặc độ cao của chất lỏng, không phải từ nguồn điện.
Bơm quay ngược ngay từ lúc khởi động hay chỉ quay ngược sau khi ngắt điện sẽ cho biết cần điều tra điều gì. Khởi động lại bơm khi nó đang quay ngược gây tải cho bơm và động cơ, nên tránh chẩn đoán bằng cách bấm khởi động lặp lại.
Với trường hợp quay ngược sau khi dừng, hãy xem áp suất phía đẩy, chênh lệch cao độ trên đường ống và van một chiều. Đổi pha không làm gì được với chênh áp đang đẩy chất lỏng quay lại.
Ở hệ thống nhiều bơm, đường ống giữa bơm đang dừng và bơm đang chạy cũng quan trọng. Khi hệ thống điều khiển đổi số bơm chạy, hãy xem những thay đổi đó cùng với sơ đồ thủy lực.
Loại bơm và chất lỏng cũng quan trọng. Bơm chân không hút khí và bơm chọn cho chất lỏng nhớt có cấu tạo bên trong và điều kiện vận hành cho phép khác nhau.
Sau khi sửa: bản vẽ và hồ sơ
Sau khi đã đổi thứ tự pha, hãy cập nhật số dây, bố trí đầu nối và sơ đồ đấu dây cho khớp với thực tế lắp đặt. Nếu số dây giữ nguyên như cũ, lần thay thế sau có thể lặp lại đúng lỗi này.
Hồ sơ có giá trị hơn khi ghi cả mã thiết bị, kiểu động cơ, kiểu truyền động, chiều quay yêu cầu của bơm và vị trí quan sát. Với thiết bị dùng biến tần, hãy ghi thêm nguồn phát lệnh và lịch sử thay đổi tham số.
Nếu trước công việc bơm chạy đúng và chỉ quay ngược sau đó, thì các mối nối mà công việc đã đụng tới là manh mối tốt nhất. Ghi riêng việc thay động cơ, thay cáp và nâng cấp tủ điện để mọi người có chung điểm xuất phát khi điều tra.
Đừng suy ra cách nối chỉ từ màu dây hay hình dạng bên ngoài; hãy đối chiếu với bản vẽ thiết bị và nhãn thực tế. Lịch sử thay đổi giúp lần kiểm tra sau bắt đầu từ trạng thái đúng gần nhất.
Sau khi sửa, đừng dừng ở "đã quay đúng chiều". Hãy đánh giá lưu lượng, cột áp, dòng điện và rung động trong điều kiện vận hành quy định. Nếu đã đúng chiều mà hiệu suất vẫn thiếu, hãy tìm nguyên nhân khác như điều kiện phía hút hoặc trở lực hệ thống.
Bảng kiểm tra: bơm Nhật quay sai chiều
Dùng danh sách này để làm rõ sự việc trước khi ai đó thay đổi dây dẫn. Đây là công cụ thu thập thông tin, không phải quy trình thao tác; người chịu trách nhiệm thiết bị quyết định việc cần làm.
Bảng kiểm tra thu thập thông tin khi bơm quay ngược
| Hạng mục | Cần xác nhận |
|---|---|
| Chiều quay yêu cầu | Mũi tên trên vỏ bơm và vị trí quan sát ghi trong sách hướng dẫn (đầu trục ra hay phía quạt) |
| Thời điểm quay ngược | Ngay từ khi khởi động, hay chỉ sau khi dừng (dòng chảy ngược) |
| Kiểu truyền động | Khởi động trực tiếp hay biến tần; có đường bypass sang lưới hay không |
| Thứ tự pha của nguồn | Chỉ số của máy kiểm tra thứ tự pha tại điểm đo, và điểm đo nằm ở đâu |
| Đủ cả ba pha | Không mất pha, không lỏng đầu nối trước khi có ai đổi dây |
| Ký hiệu và bản vẽ | R/S/T và U/V/W (hoặc L1–L3, T1–T3, A/B/C) theo bảng chú giải trên bản vẽ |
| Phạm vi thay đổi | Các động cơ khởi động trực tiếp khác cấp điện từ cùng điểm |
| Cài đặt biến tần | Nguồn lệnh thuận/ngược, chế độ vận hành, dây đầu ra |
| Công việc gần đây | Thay động cơ, cáp hoặc tủ điện kể từ lần chạy đúng gần nhất |
| Sau khi chỉnh | Lưu lượng, cột áp, dòng điện, rung động; bản vẽ và số dây đã cập nhật |
Câu hỏi gửi nhà cung cấp Nhật
- Mũi tên chiều quay trên bơm được hiểu là nhìn từ đầu nào?
- Muốn có đúng chiều quay thì đầu nối nguồn nào nối với đầu nối động cơ nào, và điều đó có thể hiện trên bản vẽ không?
- Bơm này có chịu được quay ngược trong lần chạy thử ngắn không, kể cả phớt cơ khí và vòng bi?
- Với thiết bị dùng biến tần: tham số hoặc đầu vào nào đặt chiều thuận/ngược, và nhà máy đã cài sẵn chưa?
- Hệ thống có cần van một chiều hoặc biện pháp bảo vệ khác chống quay ngược sau khi dừng không?
- Động cơ có định mức phù hợp với điện áp và tần số lưới của chúng tôi (50 Hz) không?
Mẫu email gửi nhà cung cấp
Tiêu đề: Chiều quay bơm P-101 khi chạy thử
Trong lần chạy đầu tiên của bơm P-101, trục quay ngược với mũi tên trên vỏ bơm (nhìn từ phía quạt của động cơ). Động cơ khởi động trực tiếp và cả ba pha đều có điện. Trước khi chúng tôi thay đổi bất kỳ mối nối nào, xin anh/chị xác nhận: (1) mũi tên cần được nhìn từ đầu nào, (2) cách nối yêu cầu giữa đầu nối nguồn R/S/T và đầu nối động cơ U/V/W, và (3) lần chạy ngược ngắn vừa rồi có thể ảnh hưởng đến phớt cơ khí hay không. Nếu có bản vẽ đấu dây thể hiện thứ tự pha dự kiến thì rất hữu ích.
Mã bơm, đầu nhìn và cách khởi động ở trên là giả định; hãy thay bằng thông tin của bạn. Khi gửi cho phía Nhật, hãy dịch sang tiếng Anh hoặc tiếng Nhật theo thông lệ làm việc của nhà máy.
Giới hạn của bài viết
- Quy tắc đổi hai pha áp dụng cho động cơ không đồng bộ ba pha khởi động trực tiếp từ lưới. Nó không áp dụng cho động cơ chạy biến tần, động cơ một pha hay hiện tượng quay ngược do dòng chảy ngược.
- Các hình là mô hình lý tưởng. Chúng không định nghĩa chiều thuận hay ngược kim đồng hồ của động cơ thật và không phải hướng dẫn đấu dây.
- Ký hiệu đầu nối, màu dây và quy ước thứ tự pha khác nhau theo quốc gia, công ty và bản vẽ. Luôn theo bảng chú giải trên bản vẽ của dự án.
- Bơm chịu được quay ngược đến mức nào tùy thiết kế. Hãy hỏi nhà sản xuất.
- Bài chưa xác nhận số hiệu TCVN tương ứng với IEC 60034-8; cần đối chiếu trước khi dẫn trong tài liệu chính thức.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao đổi chỗ hai pha làm đổi chiều quay mà không đổi tốc độ?
Vì nó đảo thứ tự pha, và điều đó đảo chiều của từ trường quay. Với cùng tần số và số cực, tốc độ đồng bộ vẫn như cũ; chỉ có chiều đảo lại.
Tần số đổi từ 50 Hz sang 60 Hz thì động cơ có quay ngược không?
Không. Tần số ảnh hưởng đến tốc độ đồng bộ, còn thứ tự pha quyết định chiều quay. Một động cơ và bơm cụ thể có chạy được ở tần số khác hay không còn tùy thông số kỹ thuật của cả hai.
Máy kiểm tra thứ tự pha đã cho biết thứ tự pha thì chiều quay của bơm có chắc chắn không?
Chưa chắc. Máy chỉ cho biết thứ tự pha tại điểm bạn đo. Bạn vẫn cần kiểm tra các mối nối từ điểm đó đến động cơ, định nghĩa cuộn dây, có biến tần hay không, rồi đối chiếu vị trí quan sát với chiều quay yêu cầu của bơm.
Bơm quay ngược mà vẫn ra ít nước thì có dùng tiếp được không?
Không. Có nước ra không chứng tỏ bơm đạt hiệu suất thiết kế hay còn an toàn về cơ khí. Hãy khắc phục nguyên nhân theo chiều quay nhà sản xuất chỉ định, rồi đánh giá hiệu suất trong điều kiện quy định.
Vì sao bảng điều khiển ghi "FWD" mà bơm vẫn quay ngược mũi tên?
"Thuận" (FWD) chỉ là tên của một lệnh điều khiển. Chiều quay thực còn phụ thuộc vào thứ tự pha đầu ra và cách nó tương ứng với các cuộn dây. Hãy đối chiếu tên lệnh, sơ đồ đấu dây và vị trí quan sát với chiều quay mà bơm yêu cầu.
Nguồn tham khảo
- Thứ tự pha và chiều quay của động cơ ba pha, phân biệt với một pha: Oriental Motor, sách hướng dẫn động cơ AC
- Cuộn dây stato, từ trường tổng hợp, số cực và tốc độ: EE2E11 Electrical Energy Conversion, "AC Machine Stator"
- Dòng điện cảm ứng và hệ số trượt: EE2E11 Electrical Energy Conversion, "Induction Machine"
- Dòng phần ứng và mô-men ở máy điện một chiều nam châm vĩnh cửu: EE2E11 Electrical Energy Conversion, "DC Machines"
- Tốc độ đồng bộ: Mitsubishi Electric FA FAQ (tiếng Nhật)
- Đổi chiều quay động cơ bằng biến tần: Toshiba Industrial Products and Systems FAQ (tiếng Nhật)
- Thứ tự pha đầu vào của biến tần: Schneider Electric FAQ FA23680
- Máy kiểm tra thứ tự pha (kensoki) và chiều quay động cơ: Panasonic TERASU, từ điển (tiếng Nhật)
- Quay ngược do dòng chảy ngược: KSB, "Reverse Running Speed"
Bài gốc tiếng NhậtHướng dẫn này được biên soạn từ một bài viết của MONOSCOPE dành cho độc giả tại Nhật: ポンプが逆回転する理由|三相モーターの相順と2相を入れ替える原理


